Mức đóng bảo hiểm bắt buộc
Tính mức đóng BHXH, BHYT, BHTN của người lao động và doanh nghiệp theo tỷ lệ 2026, kèm trần đóng.
| Người lao động | Mức đóng |
|---|---|
| BHXH (8%) | 1.600.000 ₫ |
| BHYT (1,5%) | 300.000 ₫ |
| BHTN (1%) | 200.000 ₫ |
| Tổng | 2.100.000 ₫ |
| Doanh nghiệp | Mức đóng |
|---|---|
| BHXH (17,5%) | 3.500.000 ₫ |
| — Hưu trí – tử tuất | 2.800.000 ₫ |
| — Ốm đau – thai sản | 600.000 ₫ |
| — Tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp | 100.000 ₫ |
| BHYT (3%) | 600.000 ₫ |
| BHTN (1%) | 200.000 ₫ |
| Tổng | 4.300.000 ₫ |
| Trần đóng (mức lương tính đóng tối đa) | |
|---|---|
| BHXH / BHYT | 50.600.000 ₫ |
| BHTN (Vùng I) | 106.200.000 ₫ |
Cách tính
Bảo hiểm bắt buộc ở Việt Nam gồm ba quỹ: bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT) và bảo hiểm thất nghiệp (BHTN). Cả người lao động và doanh nghiệp cùng đóng, với tỷ lệ khác nhau, trên cùng một mức lương ghi trong hợp đồng.
Người lao động đóng 10,5%: BHXH 8%, BHYT 1,5%, BHTN 1%. Doanh nghiệp đóng 21,5%: BHXH 17,5%, BHYT 3%, BHTN 1%. Cộng lại là 32% quỹ lương.
Con số 17,5% phía doanh nghiệp là chỗ hay bị ghi nhầm thành 14%, vì 14% là phần hưu trí – tử tuất mà ai cũng nhớ. Thực tế phần này gồm ba khoản: 14% hưu trí – tử tuất, 3% ốm đau – thai sản và 0,5% tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp. Ghi thiếu hai khoản sau làm tổng 32% sai đi 3,5 điểm phần trăm. Trang này tách riêng ba khoản để bạn thấy tiền đi đâu.
Mức lương đóng bảo hiểm có trần. BHXH và BHYT tính trên tối đa 20 lần mức lương cơ sở; BHTN tính trên tối đa 20 lần mức lương tối thiểu vùng nơi doanh nghiệp đóng trụ sở. Vì hai trần này dựa trên hai mốc khác nhau, chúng chạm ở hai ngưỡng lương khác nhau — đó là lý do trang này hiện riêng mức lương đóng thực tế của từng quỹ thay vì chỉ hiện một con số chung.
Ở chiều ngược lại cũng có sàn: lương đóng bảo hiểm không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng.
Công thức
Tiền đóng mỗi quỹ = min(lương, mức trần của quỹ đó) × tỷ lệ đóng
Trần BHXH và BHYT bằng 20 lần lương cơ sở; trần BHTN bằng 20 lần lương tối thiểu vùng. Tổng chi phí thật của một vị trí = lương gross + phần doanh nghiệp đóng, không phải chỉ lương gross.
Ví dụ
Lương 20.000.000 đồng/tháng, doanh nghiệp ở vùng I:
- Người lao động — BHXH 8%
- 1.600.000 đ
- Người lao động — BHYT 1,5%
- 300.000 đ
- Người lao động — BHTN 1%
- 200.000 đ
- Người lao động đóng
- 2.100.000 đ
- Doanh nghiệp — BHXH 17,5%
- 3.500.000 đ
- Doanh nghiệp — BHYT 3%
- 600.000 đ
- Doanh nghiệp — BHTN 1%
- 200.000 đ
- Doanh nghiệp đóng
- 4.300.000 đ
- Tổng chi phí của vị trí
- 24.300.000 đ
Một vị trí lương 20 triệu tốn của doanh nghiệp 24,3 triệu đồng mỗi tháng. Khi thương lượng một hợp đồng dịch vụ hay tự nhận việc tự do, đây mới là con số đáng đem ra so sánh chứ không phải mức lương gross.
Câu hỏi thường gặp
Tổng cộng đóng bao nhiêu phần trăm lương?
32% — trong đó người lao động 10,5% và doanh nghiệp 21,5%. Phần của doanh nghiệp không bị trừ vào lương của người lao động, nhưng nó là chi phí thật của vị trí đó.
Vì sao doanh nghiệp đóng BHXH 17,5% chứ không phải 14%?
14% chỉ là phần hưu trí – tử tuất. Cộng thêm 3% ốm đau – thai sản và 0,5% tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp mới ra 17,5%. Doanh nghiệp đủ điều kiện và có văn bản chấp thuận có thể được áp mức 0,3% cho khoản tai nạn lao động thay vì 0,5%.
Lương cao thì có phải đóng bảo hiểm trên toàn bộ không?
Không. BHXH và BHYT chỉ tính trên tối đa 20 lần lương cơ sở, BHTN chỉ tính trên tối đa 20 lần lương tối thiểu vùng. Vượt trần, số tiền đóng đứng yên dù lương tiếp tục tăng.
Vì sao BHTN có trần khác BHXH và BHYT?
Vì luật lấy hai mốc khác nhau: BHXH và BHYT neo vào lương cơ sở của khu vực công, còn BHTN neo vào lương tối thiểu vùng của địa phương. Doanh nghiệp ở vùng I và ở vùng IV do đó có trần BHTN khác nhau.
Lương đóng bảo hiểm có phải là lương thực nhận không?
Không nhất thiết. Lương đóng bảo hiểm là mức ghi trong hợp đồng lao động, gồm lương, phụ cấp và các khoản bổ sung xác định được. Nhiều khoản phúc lợi như tiền ăn ca, xăng xe, điện thoại theo mức khoán không tính vào lương đóng bảo hiểm.
Không đóng bảo hiểm để nhận lương cao hơn có lợi không?
Về ngắn hạn thì tiền về tài khoản nhiều hơn; về dài hạn thì mất quyền lợi hưu trí, thai sản, ốm đau và trợ cấp thất nghiệp — trong đó riêng phần doanh nghiệp đóng thay đã là 21,5% lương mà bạn không phải bỏ ra. Ngoài ra tham gia BHXH bắt buộc là nghĩa vụ theo luật, không phải lựa chọn của hai bên.
Số liệu ở đây áp dụng từ khi nào?
Tỷ lệ đóng theo Luật Bảo hiểm xã hội 2024 có hiệu lực từ 01/7/2025. Mức lương tối thiểu vùng dùng cho trần BHTN áp dụng từ 01/01/2026 theo Nghị định 293/2025/NĐ-CP. Trang hiện rõ ngày hiệu lực của bộ số liệu đang dùng ngay dưới kết quả.
Nguồn tham khảo
Nội dung được rà soát ngày